Đánh giá tình trạng sức khỏe, bệnh nghề nghiệp của người lao động và đề xuất các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu tại các đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. 2017-12-27T09:55:39+00:00

    Project Description

    Đánh giá tình trạng sức khỏe, bệnh nghề nghiệp của người lao động và đề xuất các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu tại các đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

    Nhiệm vụ “Nghiên cứu điều tra lập báo cáo đánh giá tình trạng sức khỏe, bệnh nghề nghiệp của người lao động và đề xuất các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu tại các đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam” được thực hiện từ 07/2014 đến tháng 12/2015 đã cung cấp bức tranh tổng thể về sức khỏe của người lao động (NLĐ) ngành dầu khí trong mối liên quan với điều kiện môi trường lao động (MTLĐ) đặc thù của ngành, từ đó giúp nhìn nhận thực trạng và đưa ra những khuyến cáo, giải pháp cần thiết trong công tác quản lý sức khỏe nghề nghiệp của NLĐ thuộc các đơn vị của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).

    Với phương pháp hồi cứu số liệu trong 03 năm gần nhất, kết hợp điều tra phỏng vấn một số lượng lớn NLĐ và cán bộ quản lý An toàn – Sức khỏe – Môi trường (ATSKMT), thực trạng về tình trạng sức khỏe và mắc bệnh nghề nghiệp (BNN) trong ngành dầu khí đã được đánh giá và nhận định tóm tắt như sau:

    Tình trạng sức khỏe của NLĐ ngành dầu khí

    Thực trạng tình trạng sức khỏe của NLĐ trong ngành khá tốt, với sức khỏe loại 1 và loại 2 (rất khỏe và khỏe) chiếm chủ yếu với tỷ lệ trên 80%. Sức khỏe loại 4 và loại 5 (yếu và rất yếu) chỉ chiếm khoảng 2,4%. Tuy nhiên, theo thời gian từ năm 2011 đến năm 2014, nhóm sức khỏe loại 1 có xu hướng giảm, các nhóm sức khỏe còn lại có xu hướng tăng nhẹ. Số liệu này cho thấy mặt bằng sức khỏe của NLĐ ngành dầu khí cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung của NLĐ Việt Nam, theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

    Tình trạng sức khỏe của NLĐ có sự thay đổi theo độ tuổi, tuổi nghề. Sức khỏe của NLĐ có mức độ chuyển biến bắt đầu cần lưu ý khi bước qua 35 tuổi, giảm đáng kể khi chuyển qua giai đoạn từ 46 – 55 tuổi và đặc biệt giảm mạnh ở độ tuổi trên 55. Tỷ lệ sức khỏe loại khỏe và rất khỏe suy giảm mạnh sau khi bước qua ngưỡng tuổi nghề lớn hơn 16 năm. Tuy nhiên, cho đến độ tuổi nghề hơn 20 năm, 97% NLĐ vẫn có sức khỏe ở mức trên trung bình.

    Các nhóm bệnh được phát hiện qua khám sức khỏe định kỳ với tỷ lệ khá đáng kể tại PTSC là tiêu hóa (17,2%) và tai – mũi – họng (12,7%). Đối với PVFCCo, đáng lưu ý là tỷ lệ cao của các bệnh về tai – mũi – họng (29,4%), mắt (22,2%). Đối với VSP, đáng lưu ý là tỷ lệ NLĐ bị rối loạn chuyển hóa chiếm đến 56,6%, bệnh mãn tính được ghi nhận chủ yếu là huyết áp và tiểu đường, với tỷ lệ khoảng 17,9%. Tuy nhiên, có thể nhận ra một vài điểm khác biệt đáng lưu ý so với thống kê chung về tình hình mắc bệnh của NLĐ Việt Nam đã được công bố. Cụ thể là tỷ lệ một số nhóm bệnh/ chứng phổ biến như nhiễm virus viêm gan B, da liễu, cơ xương khớp, huyết áp, tiểu đường tại các đơn vị là rất thấp (hoặc không phát hiện) so với số liệu được công bố khảo sát chung của NLĐ tại Việt Nam. Điều này có liên quan đến chất lượng khám sức khỏe định kỳ tại các đơn vị hay không, là vấn đề chưa được đánh giá.

    Tình trạng mắc bệnh nghề nghiệp (BNN) của NLĐ ngành dầu khí

    Theo thống kê đến năm 2014 của Bộ Y tế về BNN của NLĐ Việt Nam, bệnh bụi phổi chiếm đến 75% các BNN được phát hiện, điếc nghề nghiệp (ĐNN) là bệnh đứng thứ 2, chiếm 17% các BNN được phát hiện. Đối với ngành dầu khí, bệnh bụi phổi không phải là vấn đề cần lưu ý, mà chủ yếu là ĐNN.

    Theo số liệu tổng hợp từ 2012 -2014, ĐNN được phát hiện tại 03 đơn vị là VSP, PTSC và PVFCCo với tổng số ca hiện mắc năm 2014 là 299 ca, trong đó phần lớn là ở VSP. Tỷ lệ NLĐ mắc ĐNN so với số lượng người được khám tính trung bình trong 03 năm cao nhất ở PVFCCo (8,5%), tiếp theo là VSP (8,1%) và PTSC (2,7%). Tính trung bình trên cả 03 đơn vị, tỷ lệ bệnh mắc bệnh ĐNN của 02 năm gần đây (2013, 2014) tăng so với năm 2012. Theo nghiên cứu của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường, tỷ lệ hiện mắc bệnh ĐNN do tiếng ồn ở một số ngành như sau: Đóng tàu 15,01%; tuyển than 7,19%; xi măng 6,76%; dệt 4,59% và hàng không 2,93%.

    Một số đơn vị khác ngoài VSP, PVFCCo và PTSC, tuy chưa báo cáo phát hiện ca ĐNN nào nhưng được đánh giá là có nguy cơ mắc khá cao do mức ô nhiễm tiếng ồn và số lượng NLĐ làm việc trong điều kiện có tiếng ồn không ít hơn như: PVC, PVTrans, PV Oil, PVEP, BSR, PV Drilling.

    Bên cạnh ĐNN, số lượng NLĐ chưa mắc nhưng bị suy giảm thính lực cần được theo dõi ĐNN là khá đáng kể, cao hơn từ 02 đến 04 lần so với số người đã mắc. Các loại BNN khác được phát hiện gồm lao nghề nghiệp, viêm gan virus do nghề nghiệp và bụi phổi silic, nhưng với số ca mắc rất hiếm, không đáng kể.

    Về độ tuổi, NLĐ mắc ĐNN nhiều nhất ở 36 – 45 tuổi, tiếp theo là ở độ tuổi 26 -35 tuổi. Về tuổi nghề, mắc ĐNN nhiều nhất ở độ tuổi nghề dưới 05 năm, tiếp theo là từ 5 – 10 năm. Đây là điều rất đáng lưu ý vì 05 năm là khoảng thời gian làm việc chưa nhiều. Tỷ lệ NLĐ mắc ĐNN có sự thay đổi theo các vị trí làm việc, trong đó yếu tố tiếng ồn là nguyên nhân chính.

    Các yếu tố môi trường lao động (MTLĐ) ảnh hưởng đến sức khỏe của NLĐ ngành dầu khí

    Các yếu tố MTLĐ ảnh hưởng đến sức khỏe của NLĐ được phân tích đánh giá dựa trên tỷ lệ mẫu đo không đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao động cho phép (TCVSCP) cũng như các yếu tố có thời gian tiếp xúc kéo dài, thường xuyên. Tiếng ồn là yếu tố MTLĐ có hại phổ biến nhất trong ngành dầu khí với tỷ lệ mẫu đo không đạt chuẩn cao nhất (chiếm trên 23%), dẫn đến số ca mắc BNN trong ngành chủ yếu là ĐNN.

    Ngoài tiếng ồn, các đơn vị cũng cần phải chú trọng theo dõi và phát hiện những ca BNN có liên quan đến các yếu tố MTLĐ có hại phổ biến khác sau tiếng ồn như: nhiệt độ, ánh sáng, hơi khí độc, tốc độ gió.

    Cảm nhận chủ quan của NLĐ về thực trạng các yếu tố MTLĐ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe, BNN

     Kết quả điều tra qua phỏng vấn một lần nữa cho thấy tiếng ồn là yếu tố MTLĐ mà 90% người NLĐ cho biết phải tiếp xúc gần như cả ngày làm việc. Bụi, hóa chất, rung, nhiệt độ là các yếu tố tiếp theo được phản ánh nhiều nhất. Thông tin này khá phù hợp với số liệu thống kê chính thức tại các đơn vị. Trong đó, bụi được NLĐ phản ánh với nguồn phát sinh cao trong những thời điểm và không gian cụ thể.

    Mức độ đáp ứng TCVSCP về các yếu tố MTLĐ chưa được thông tin một cách hiệu quả đến NLĐ với 39% không biết nơi làm việc của mình có yếu tố MTLĐ nào vượt TCVSCP hay không, phần còn lại có biết nhưng hơn một nửa trong số này có được thông tin từ nguồn không chính thức.

    Hơn 35% NLĐ được hỏi phản ánh tư thế làm việc không thoải mái với nhiều nguyên nhân khác nhau. Khoảng 45% NLĐ được hỏi cho biết cảm thấy mệt mỏi và căng thẳng ở các mức độ khác nhau trong quá trình làm việc. Trên 60% cán bộ quản lý ATSKMT được hỏi nhận định có sự căng thẳng tâm lý ở NLĐ. Yếu tố có hại trong MTLĐ, tính chất công việc phải tập trung cao độ, nguy cơ tai nạn là các nguyên nhân phổ biến nhất mà NLĐ cho là đã ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của họ. Ngoài ra, làm việc trong các khu vực cách ly, cô lập trong thời gian dài (bao gồm các công trình trên biển) cũng được nhận định là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của NLĐ.

    Các loại bệnh thông thường NLĐ được phát hiện qua khám sức khỏe định kỳ phổ biến thuộc nhóm viêm xoang, viêm mũi và bệnh về mắt, phù hợp với số liệu thống kê chính thức. Đáng chú ý có đến 10% NLĐ cho biết đang được chẩn đoán mắc chứng tăng huyết áp. Bệnh mãn tính khác là viêm họng mãn tính, thoái hóa cột sống và tiểu đường.

    So với tổng số người được phỏng vấn có khám BNN trong năm 2014, tỷ lệ cho biết có mắc BNN (chủ yếu là ĐNN) là 3,8% và được theo dõi mắc BNN (chủ yếu là suy giảm thính lực) là 18,5%. Tỷ lệ NLĐ cho biết đang bị mắc BNN cao nhất ở VSP, tiếp theo là PVFCCo và PTSC.

    Việc thực hiện các biện pháp quản lý sức khỏe ở các đơn vị được NLĐ phản ánh tốt, với đại đa số NLĐ cho rằng được sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe, bố trí thời gian lao động hợp lý, được trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, được tập huấn định kỳ và kiểm tra giám sát thường xuyên về tuân thủ các biện pháp bảo vệ cá nhân, được bồi dưỡng độc hại.

    Hơn 50% NLĐ đã đề xuất kiến nghị khi được phỏng vấn, một số ý kiến khá phổ biến và đáng lưu ý của NLĐ như: Cần bố trí thời gian làm việc, nghỉ ngơi hợp lý hơn; bổ sung phương tiện bảo vệ cá nhân và cải tiến các loại này tiện nghi hơn. Nhiều ý kiến của người quản lý cho rằng cần xây dựng quy chế thưởng – phạt chặt chẽ hơn, có biện pháp chế tài đối với NLĐ, cán bộ quản lý và lãnh đạo về việc thực hiện các quy định về ATSKMT, trong đó có sức khỏe và BNN.

    Từ các nhận định trên, một số giải pháp ngăn ngừa, giảm thiểu các nguy cơ phổ biến có khả năng gây hại đến sức khỏe nghề nghiệp của NLĐ, cũng như các kiến nghị cần thiết đã được đề xuất nhằm đánh giá đúng hiện trạng, xu hướng về tình trạng sức khỏe nghề nghiệp của NLĐ, từ đó có thể cảnh báo và hoạch định các giải pháp thích hợp, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp cho NLĐ trong ngành dầu khí.

    Project Details